casual photophile opinion

Review: Nikon F4

Series Nikon “F” là bệ phóng đưa Nikon lên ngôi vị thống trị thị trường máy ảnh toàn cầu, đặc biệt là sau sự ra đời của “siêu sao” F3 (1980). Mặc dù đã đạt được những thành công vang dội, nhưng có vẻ như Nikon vẫn chưa muốn dừng lại ở đó - bằng chứng là việc hãng luôn có những sự tìm kiếm, sáng tạo & thay đổi về nhiều mặt để phù hợp với nhu cầu khách hàng (điều này luôn được người tiêu dùng đánh giá rất cao).

Những năm 70, 80 của thế kỉ trước là thời kì cạnh tranh rất gắt gao của các hãng máy ảnh nhằm có được 1 miếng bánh thị phần lớn trên thị trường; và để có được lợi thế thì rất nhiều tiền bạc, thời gian và cả công sức đã được họ bỏ vào công đoạn nghiên cứu, chế tạo sản phẩm. Với Nikon, ngay sau sự kiện ra mắt chiếc F2 (1971) – các kĩ sư của hãng đã bắt tay vào việc tìm kiếm phiên bản nâng cấp cho chiếc máy này. Và khoảng 10 năm sau thì F3 ra đời (1980) với rất nhiều cải tiến vượt trội.

Đến thời điểm này, ngành nhiếp ảnh toàn cầu đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể - công nghệ đo sáng điện tử, chức năng ưu tiên được tích hợp sẵn, hệ thống lấy nét tự động càng ngày càng chứng tỏ được sự vượt trội của chúng. Và Nikon nhận thấy đã đến lúc cần phải sang trang mới với những cách tiếp cận mới về chiếc máy tiếp theo để bắt kịp xu hướng của thời đại. Vậy là hãng đã chọn cho mình 1 khởi đầu mới mang tên F4.

Nikon F4E

Là chiếc máy phim SLR 35mm thứ 4 trong series chuyên nghiệp “F” của Nikon, ra mắt vào tháng 9 năm 1988, F4 được tích hợp hệ thống lấy nét tự động (auto-focus system).

Nikon đi tới quyết định ngừng sản xuất tất cả các phiên bản F4 vào tháng 5 năm 1997 – tức là khoảng 1 năm sau sự kiện ra mắt chiếc F5 (1996).

THIẾT KẾ

F4 có 3 phiên bản là F4, F4S & F4E – và để nhận biết 3 phiên bản này, cách đơn giản nhất là nhìn vào đế pin (vì cả 3 phiên bản đều mang tên là F4 – ghi trên thân máy)

3 phiên bản F4: F4, F4s, F4E

Phiên bản

Thời điểm ra mắt

Đế pin

Loại pin

Tốc độ chụp cao nhất

F4

1988

MB-20

4 pin AA

4 khung hình/s

F4S

1988

MB-21

6 pin AA

5.7 khung hình/s

F4E

1991

MB-23

8 pin AA/Ni-Cd (MN-20)

5.7 khung hình/s

Phiên bản F4S là chiếc F4 đi kèm với đế pin MB-21 (tiêu chuẩn của Mỹ) – tăng thêm khoảng 21mm chiều cao; còn đế pin MB-23 tăng thêm cho chiếc F4E 39mm (so với bản gốc F4).

F4 còn 1 phiên bản khác mà ít được những người chơi ảnh nhắc đến, đó là Nikon NASA F4. Phiên bản này được hãng cất công nghiên cứu, sản xuất phục vụ cho NASA; và tới năm 1991 đã được sử dụng vào dự án tàu con thoi không gian của cơ quan này. Là 1 biến thể khác của bản thông thường, Nikon NASA F4 có thêm bộ phận cảm biến hình ảnh CCD (1024x1024pixels/15x15mm). Tự hào là 1 trong những chiếc máy ảnh kĩ thuật số (hoàn toàn) đầu tiên – có thể nói phiên bản này mang rất nhiều ý nghĩa đối với Nikon nói riêng và lịch sử nhân loại nói chung. Cho đến ngày nay, Nikon NASA F4 vẫn giữ nguyên được vị thế của mình – là 1 trong những chiếc máy ảnh hiếm có nhất đã từng được sản xuất.

                                                

                                                                                                          Nikon F4 - mặt trước

Thoạt nhìn ban đầu, nhiều người hay lầm tưởng Nikon F4 với 1 chiếc máy ảnh kĩ thuật số (đặc biệt là khi máy đi kèm phụ kiện) – điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi chiếc F4 mang khá nhiều nét cách tân của thế hệ máy ảnh sau này: chạy pin, màn hình ngắm hiển thị LCD, lấy nét tự động, nhiều chế độ chụp đa dạng,… và không thể không kể tới đó là đo sáng ma trận. Thế nhưng F4 vẫn giữ được những nét truyền thống của máy ảnh phim với núm chỉnh tốc độ, cần thu phim,…

Tiếp nối thiết kế của người tiền nhiệm đi trước nó mà khởi đầu là chiếc F3; F4 có 1 sọc màu đỏ ở tay cầm bên phải – 1 nét phổ biến mà sau này có thể nói đã trở thành “đặc điểm nhận dạng” cho các dòng máy phim chuyên nghiệp & máy kĩ thuật số sau này của hãng

 

                                                                                                 Mặt trước và mặt sau của Nikon F4

Đây cũng là chiếc máy chuyên nghiệp đầu tiên trong series “F” của Nikon không có cần lên phim, tuy nhiên vẫn cho phép thu phim theo cách thủ công (qua cần thu phim) hoặc tự động (thông qua cần gạt R1, R2). Tiếp nối thành công của thế hệ đi trước, F4 mang trong mình nhiều chức năng đặc biệt phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dùng; đi kèm với đó là hệ thống phụ kiện thay thế đa dạng.

Nikon F4 được cấu thành từ tổng cộng hơn 1700 bộ phận lớn nhỏ, 4 bộ xử lý trung tâm (CPU) và chạy phần mềm chứa 43 triệu chế độ vận hành khác nhau. Đối với thời đại công nghệ như hiện nay, điều đó thực sự không quá nổi bật và thậm chí còn kém cạnh so với các chiếc máy kĩ thuật số – nhưng đặt vào thời điểm ra mắt, đây là luồng gió mới mang tính đột phá chưa từng có mà Nikon thổi vào thế giới nhiếp ảnh phim.

CHỨC NĂNG VÀ THÔNG SỐ KĨ THUẬT

Với sự ra đời của F4, hãng Nikon gửi gắm vào đó tham vọng muốn thay đổi thị trường nhiếp ảnh - thông qua 2 yếu tố mấu chốt: hệ thống lấy nét đa dạng và tự động; tốc độ chụp cao – kể cả trong điều kiện có hoặc không có flash. Công bằng mà nói, những đặc điểm kể trên thực sự không còn mới lạ gì đối với các hãng máy ảnh & phụ kiện nhiếp ảnh thời bấy giờ. Nikon đã ra đời FM2, F-801 (N8008), FE2 với tốc độ chụp cao; và hệ thống đo sáng ma trận lần đầu xuất hiện trên chiếc FA – đều được sản xuất và ra mắt trước chiếc F4. Về phần các đối thủ cạnh tranh của hãng, Maxxum 7000 của Minolta là chiếc máy đầu tiên với hệ thống lấy nét tự động hoàn chỉnh; trong khi Canon chuyển hướng sản xuất xoay quanh hệ thống tương tự bắt đầu với chiếc EOS 620/650 – và Nikon tiếp nối với F-501 (N2020) & F-801 (N8008).

Nikon không đi tiên phong về 2 yếu tố kể trên, nhưng lại là hãng đầu tiên kết hợp 2 yếu tố đó vào chiếc F4. Đi kèm với tiến bộ này là 1 số sự thay đổi về màn hình ngắm (sáng hơn), âm thanh chụp (nhỏ hơn) và khả năng chống chịu thời tiết (tốt hơn).

                                                                                                      View ngắm Nikon F4

Body F4 có 3 chức năng lấy nét chính – được điều chỉnh bằng 1 phím bên trái miệng ống kính của máy:

+ M – đầy đủ là MF: Manual Focus ~ lấy nét thủ công

+ S – đầy đủ là AF-S: Auto Focus–Single ~ lấy nét tự động 1 sự vật bất động

+ C – đầy đủ là AF-C: Auto Focus-Continuous ~ lấy nét tự động 1 sự vật chuyển động

Máy cũng được tích hợp các tính năng chụp tự động/thủ công khá đầy đủ (PASM):

+ P – Program Mode: Máy tự chỉnh khẩu độ và tốc độ chụp

+ A – Aperture Priority: Ưu tiên khẩu độ, máy tự chỉnh tốc độ chụp

+ S – Shutter Priority: Ưu tiên tốc độ, máy tự chỉnh khẩu độ

+ M – Manual Mode: Người dùng chỉnh các thông số theo phương pháp thủ công

F4 đi kèm 3 hệ thống đo sáng – có thể điều chỉnh thông qua 1 nút góc trên bên phải gù:

+ Spot Metering: Đo sáng theo 1 trong 5 điểm lấy nét tự động

+ Matrix Metering: Đo sáng cân bằng giữa vùng sáng & vùng tối trên 1 bức hình

+ Center-weighted Metering: Đo sáng chính xác giữa khung hình

Nikon F4 có khả năng tương thích với tất cả các ống kính lấy nét tự động (AF) và thủ công (MF) dành cho ngàm F của máy – và đồng thời cũng là 1 trong 3 máy ảnh phim của Nikon có hỗ trợ chế độ đo sáng ma trận khi đi kèm với các ống kính AI.

Một số lưu ý về các ống kính khi sử dụng cùng F4:

+ Các ống kính G mới của hãng – vì không có vòng chỉnh khẩu, nên khi đi kèm F4 sẽ hạn chế tính năng chụp còn P và S

+ Các ống kính DX – vì không được thiết kế phù hợp với khung hình của các máy 35mm, nên khi sử dụng cùng F4 ảnh sẽ có hiện tượng mờ viền

+ F4 cũng không hỗ trợ hệ thống chống rung của 1 số các ống kính Nikon, nên mặc dù vẫn tương thích và hoạt động được; nhưng tính năng ổn định hình ảnh sẽ bị hạn chế

                                                                                                        Một số lens Nikon phổ biến

Sau đây là 1 số thông số kĩ thuật của chiếc Nikon F4:

+ Loại máy: SLR 35mm lấy nét tự động

+ Ngàm: Nikon F (AF/MF)

+ Pin: 4 pin AA cho MB-20, 6 pin AA cho MB-21, 6 pin AA hoặc Ni-Cd (MN-20) cho MB-23

+ Chế độ chụp: PH, P, S, A, M

+ Tốc độ màn trập/ Tốc độ chụp: Nhanh nhất lên đến 1/8800s & cũng có thể kéo dài tới 30s cho việc phơi sáng (chỉnh thủ công thì nhanh nhất là 1/8000s & chậm nhất là 4s). Kèm theo đó là B, T, X (1/60-1/250s)

+ ISO (ASA): 6-6400 (25-5000 cho DX)

+ Bù trừ đo sáng: ± 2

+ Lên phim: Tự động

+ Gù: có thể tháo rời & thay thế được

+ Chồng hình: Có

+ Kích thước: 169 x 118 x 77mm (F4), 169 x 139 x 77mm (F4S), 169 x 157 x 77mm (F4E)

+ Trọng lượng: 1090g (F4), 1280g (F4S), 1400g (F4E)

                                                                                                     Các chế độ Nikon F4

                                                                                                              View ngắm

CHẤT ẢNH

 

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

1 trong những lý do quan trọng nhất khiến cho Nikon F4 vẫn còn được rất nhiều người chơi ảnh ưa chuộng cho tới tận ngày nay là vì độ tương thích cao với các ống kính của máy. Chiếc F4 có khả năng đi cùng bất kì ống kính nào được Nikon sản xuất kể từ năm 1959 – và mặc dù với 1 số hạn chế như kể trên; nhưng khách quan mà nói, hãng luôn có tầm nhìn chiến lược tốt về chất lượng & chức năng của sản phẩm – đó mới là điều mà khách hàng thực sự trân trọng.

                                                                                         Một số lens hay dùng trên Nikon F4

Sự tương thích này tạo cho những người lâu năm sử dụng máy ảnh của Nikon sự dễ dàng trong quá trình lựa chọn phụ kiện – nhất là khi nhìn vào lịch sử phát triển hệ thống ống kính của hãng. Là bản nâng cấp của F3, nhưng cũng là người tiền nhiệm của F5 – khách quan mà nói, F4 là sự cân bằng cần phải có cho 2 người anh em của nó:

+ Hệ thống đo sáng, lấy nét cách tân hiện đại (vượt trội hơn F3)

+ Hệ ống kính đi kèm đa dạng từ ống kính cũ đến mới của hãng (hơn hẳn F5)

Điều này cũng cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của Nikon – xét với đối thủ cạnh tranh chính của hãng là Canon, người dùng của Canon luôn phải lựa chọn giữa ống kính ngàm EF hoặc ống kính ngàm FD.

Điểm hạn chế dễ nhận thấy nhất của F4 đó là độ nặng của máy (đặc biệt là với phiên bản F4S & F4E) – điều này có thể đem lại 1 số bất tiện khi di chuyển, kể cả khi sử dụng đế pin nhẹ nhất (MB-20) và ống kính D-series của hãng. Đối với mình, F4 mang lại cảm giác rất chắc tay chứ không quá nặng – lời khuyên của mình là nên cất máy vào cặp hoặc ba lô rồi đeo trên vai, hạn chế đeo trên cổ quá lâu.

1 đề tài khác hay được đưa ra tranh luận xung quanh chiếc F4 đó là về khả năng lấy nét tự động của máy (về cả tốc độ lẫn độ chính xác). Theo cảm nhận của bản thân, chiếc F4 lấy nét với tốc độ tốt, chính xác cao; tuy nhiên hơi “ồn ào” và khả năng lấy nét chính xác cùng tốc độ sẽ giảm đi (không quá đáng kể) trong điều kiện thiếu ánh sáng. Là chiếc máy chuyên nghiệp đầu tiên của Nikon sử dụng hệ thống lấy nét tự động vào thời điểm đó; trải qua 30 năm với biết bao các tiến bộ công nghệ, hiển nhiên là người dùng không nên đặt quá nhiều kì vọng vào khả năng lấy nét của F4. Tuy nhiên, đây vẫn là 1 chiếc máy có khả năng làm hài lòng bất cứ người dùng khó tính nào; và biết đâu nó sẽ đem lại cho bạn bất ngờ đấy. Nếu có điều gì đó không hài lòng về hệ thống lấy nét tự động của máy; người dùng vẫn có thể dễ dàng chuyển sang chế độ lấy nét thủ công với hệ thống đo sáng ma trận tân tiến, hiện đại – thật tiện lợi.

Vậy là lại 1 lần nữa Nikon lại chứng tỏ được bản lĩnh của 1 người đàn anh thống trị thị trường máy ảnh trong thời kì hoàng kim của nhiếp ảnh phim. Cần phải có những lời cảm ơn gửi đến những kĩ sư, những người chủ của hãng vì những nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ & sự cống hiến hết sức tâm huyết cho người tiêu dùng.

ĐIỂM MẠNH

+ Nikon F4 có độ bền rất cao, trong quá trình sử dụng ít khi gặp lỗi lầm gì

+ Hệ thống phụ kiện, ống kính,… đa dạng đem lại cho người dùng nhiều lựa chọn

+ Dễ sử dụng, chế độ cũng không quá nhiều đến nỗi gây rối cho người chơi ảnh – nhưng với từng ấy chế độ cũng là đủ để làm được rất nhiều điều hay

+ Cả người chơi máy phim và máy kĩ thuật số đều dễ làm quen với chiếc máy này

ĐIỂM YẾU

+ F4 khá nặng, có thể đem lại 1 số sự bất tiện trong quá trình sử dụng

+ Hệ thống lấy nét tự động tốt nhưng vẫn cần sự cải tiến (đối với những người dùng có nhu cầu cao đến rất cao)

KẾT LUẬN

Cho tới năm nay (2018) là tròn 30 năm kể từ khi chiếc Nikon F4 ra mắt – khi ấy chiếc máy này mang cái giá ngất ngưởng $2500 (khoảng $5316 hiện nay), đắt hơn rất nhiều so với phần lớn các máy kĩ thuật số của hãng ở thời điểm hiện tại (nói đến đây cũng phải nhìn nhận 1 cách khách quan lại giá trị của nhiếp ảnh phim trong thời đại hiện nay). Là chiếc máy chuyên nghiệp đầu tiên của Nikon sử dụng hệ thống lấy nét tự động; có thể nói F4 thuộc thế hệ tiên phong mở đường cho hãng phát triển – 1 con đường mới với công nghệ hiện đại hơn, tân tiến hơn. Những chiếc máy như vậy thường được các hãng bỏ rất nhiều công sức nghiên cứu, chế tạo & sản xuất – chính vì thế, giá cả của chúng có thể sẽ không được phải chăng cho lắm; nhưng đi kèm với đó là sự tin cậy & hiệu quả sử dụng cao đem lại cho khách hàng. Nikon F4 cũng không phải là ngoại lệ. Vào thời điểm mà nó ra mắt; khách quan và công bằng mà nói – không có chiếc máy 35mm SLR nào có thể đe dọa đến ngôi vương của nó; bằng chứng là hàng tá giải thưởng nhiếp ảnh quan trọng mà F4 đã đem lại cho Nikon trong thời kì này.

                                                                                                              Nikon F4s

Cục diện thị trường chỉ thực sự thay đổi khi đối thủ cạnh tranh của hãng là Canon chuyển hướng kinh doanh sản xuất xoay quanh hệ thống lấy nét tự động – khởi đầu với sự ra mắt chiếc EOS 1 (1989). F4 không còn là 1 ngôi sao lấp lánh của nhiếp ảnh phim nữa, nhưng nó chưa bao giờ thiếu đi độ nóng và sức cuốn hút để thu hút sự quan tâm của bất cứ khách hàng nào. Nikon đã đi trước các đối thủ cạnh tranh 1 khoảng cách quá xa và tới giờ họ mới bắt kịp, cho tới khi chiếc F6 ra đời – vị thế thống trị thị trường nhiếp ảnh phim của hãng lại được khôi phục.

Mặc dù đóng vai trò là cầu nối giữa hệ thống máy ảnh lấy nét thủ công và máy ảnh lấy nét tự động, tuy nhiên danh tiếng của Nikon F4 vẫn bị chiếc bóng lớn của những chiếc máy cận kề nó che phủ. Điều này thật đáng tiếc, vì chức năng của F4 đã chứng tỏ được đẳng cấp của nó vượt trội hơn hoàn toàn so với F3 hay F5.

                                                                                                     Seri Nikon F

Nikon F4 chắc chắn không phải là chiếc máy dành cho tất cả mọi người chơi ảnh, nhất là trong thời đại công nghệ hiện nay – khi mà khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, những giá trị cơ bản, thiết thực của nhiếp ảnh đôi khi lại bị bỏ qua, coi nhẹ để đổi lấy hàng loạt tính năng mới, tiện dụng nhưng thiếu đi tính bền vững và độ tin cậy. Là 1 người đã từng dùng qua rất nhiều các loại máy ảnh từ phim đến kĩ thuật số, cá nhân mình thực sự thấy ấn tượng với chiếc F4 trên nhiều phương diện – từ sự chắc chắn của máy, cho đến thiết kế, cách hãng bố trí ngoại hình,… và không thể không kể đến, đó là sự đa chức năng của máy. Mang trong mình 2 dòng máu của nhiếp ảnh phim và nhiếp ảnh hiện đại, Nikon F4 là 1 nhân chứng lịch sử cho cuộc cách mạng nhiếp ảnh cuối những năm 80 của thế kỉ trước; và thông qua việc sử dụng nó, người chơi ảnh sẽ học được nhiều điều thú vị:

+ Những người chơi máy kĩ thuật số vốn đã thân quen với hệ thống lấy nét tự động của DSLR; giờ đây cũng sẽ có thêm những kiến thức, trải nghiệm khi sử dụng máy phim

+ Những người chơi máy phim sẽ tìm được những cảm hứng, những nét đẹp mới thông qua hệ thống công nghệ cách tân của F4 mà các thế hệ máy trước đó không có được

Giữa cuộc sống bộn bề những chiếc máy ảnh kĩ thuật số, thật khó có thể tưởng tượng được qua từng ấy năm mà Nikon F4 vẫn giữ trọn vẹn được những giá trị đáng quý bên trong của nó, để rồi giờ đây tỏa sáng rực rỡ giữa vườn hoa của ngành nhiếp ảnh nhân loại. Cùng với sự “hồi sinh” nhanh tới mức đáng kinh ngạc của nhiếp ảnh phim, F4 là 1 chiếc máy hoàn toàn xứng đáng để có mặt trong bộ sưu tập của những người chơi ảnh sành sỏi.